Cây dành dành (hoa, lá, quả, rễ) từ chức năng chữa bệnh chon tới ứng dụng làm màu thực phẩm

cây dành dành mùa nở hoa

Với nhiều người thì cây dành dành có lẽ vẫn còn nhiều xa lạ với những câu hỏi như cây dành dành là cây gì? quả dành dành và các bộ phận khác của cây dành dành để làm gì? mua quả dành dành ở đâu? chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi trên

1- Tên khoa học và đặc điểm nhận dạng của cây dành dành

Cây dành còn có tên gọi khác là chi tử, tên khoa học là Gardenia jasminoides ellis (=gardenia florida linn). Dành dành là cây thuốc nam quý, cây trưởng thành cao khoảng 2,5  đến 3m, cành mềm, thân nhẵn, lá mọc đối hay mọc vòng ba lá, lá cứng vừa, hoa mọc ở đầu  cành màu trắng đẹp, hoa có 6 cánh, hương thơm dịu nhẹ. Quả hình bầu dục có đài ở đuôi quả, quả, có 4-7 cánh dọc theo quả, quả dành dành chưa chín màu xanh, khi chin chuyển sang màu vàng.

Cây dành dành

Cây và hoa dành dành

2- Phân bố địa lý:

Cây dành dành thường mọc hoang ở ven các kênh rạch, bờ suối… từ đồng bằng cho tới miền núi, ngày nay người ta đã trồng cây dành dành trong vườn nhà hoặc trồng làm cây cảnh. Cây được trồng bằng cách chiết cành hoặc hạt vào mùa xuân.

3- Dược tính của dành dành:

Quả dành dành chứa geniposid, gardenosid, shanzhisid, gardosid, geniposidic acid gardenin, crocin-l, n-crocetin, scandosid methyl ester. Ngoài ra còn có nonacosane, b-sitosterol, D-mannitol; tanin, dầu béo, pectin. Lá dành dành chứa một hợp chất có tác dụng diệt nấm. Hoa chứa hợp chất acid gardenic và acid gardenolic B và có 0,07% tinh dầu, Hoa dành dành được dùng trong kỹ nghệ hương liệu và nước hoa (mùi thơm jasmine)

4- Ứng dụng chữa bệnh:

Quả dành dành, rễ dành dành và lá dành dành đều có thể làm thuốc chữa bệnh rất tốt

– Quả dành dành: Quả dành dành chín được thu hái và phơi hoặc sấy khô làm thuốc, thường thu hoạch vào tháng 11 đến tháng 12. Các cây dành dành mới trồng cho quả to và vỏ dày, ngược lại cây dành dành lâu năm cho quả nhỏ hơn và vỏ mỏng hơn.

Một số bệnh và bài thuốc với quả dành dành như sau: quả dành dành có một chất màu vàng là gardenin. Ngoài ra còn có tannin, tinh dầu và chất pectin. Gardenin có tác dụng ức chế và làm giảm lượng sắc tố mật trong máu, nên được dùng để trị bệnh hoàng đản ( vàng da). Nước sắc dành dành cũng có tác dụng kháng sinh đối với một số vi trùng, tác dụng hạ áp, tăng bài tiết dịch mật.

Vị thuốc được dùng với tên gọi Chi tử có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, chỉ huyết, mát huyết, tiêu viêm.

Thường được dùng chữa viêm gan nhiễm trùng vàng da, ngoại cảm phát sốt, mất ngủ, viêm kết mạc mắt, loét miệng, đau răng, người hay chảy máu cam, thổ huyết, tiểu tiện ra máu, trong người nóng gây tiểu tiện ít và khó đi, viêm thận, phù thũng. Có thể dùng quả khô với liều từ 6-12g, hoặc rễ khô 20-40g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài, nghiền quả và thêm ít nước hoặc rượu trắng để đắp trị đinh nhọt, lở loét và bong gân..

– Rễ dành dành: Rễ được thu quanh năm, rễ dành dành rửa sạch rồi đem thái lát, phơi khô để dùng.
– Lá dành dành: Lá dành dành chủ yếu dùng lá tươi thu quanh năm Trong lá có 10-20% mannit  cũng có thể dùng tươi giã đắp đau mắt đỏ rất tốt

5- Ứng dụng làm màu thực phẩm:

Quả dành dành chín cho màu vàng rất đẹp vì vậy người ta dùng dành dành để nhuộm màu cho thực phẩm như xôi, thạch, bánh kẹo… vừa đẹp vừa an toàn

  • Bánh Phu Thê:
  • Xôi ngũ sắc
  • Xôi vò
  • Chè, thạch

6- Trồng cây dành dành làm cảnh:

 Do có lá và hoa, quả đẹp nên người ta trồng cây dành dành làm cây cảnh vừa có thể lấy hoa, lá, quả chữa bệnh

7-  Thu hái và chế biến

Quả dành dành chín được thu hái, sau đó có thể sơ chế theo các cách sau:

– Để nguyên quả: Có thể để nguyên quả dành dành chín đem sấy hoặc phơi khô,

dành dành khô nguyên quả

Dành dành khô nguyên quả

Ưu điểm của phương pháp này là quả dành dành sau khi khô sẽ được bảo quản tốt hơn vì còn nguyên lớp vỏ bảo vệ, nhược điểm là mất  nhiều thời gian sấy hoặc phơi để quả dành dành đạt độ khô không bị mốc

– Đập vỡ hoặc xay quả dành dành sau đó lượt bớt phần vỏ đem phơi hoặc sấy khô: ưu điểm là phơi hoặc sấy nhanh khô.

hạt dành dành

hạt dành dành

– Tách bỏ vỏ từng quả, lấy lõi đem phơi hoặc sấy khô

lõi quả dành dành

Lõi quả dành dành

Một số bài  thuốc chữa bệnh với quả dành dành:

Trị sau khi bị thương hàn có mồ hôi ra, mửa, ngủ không được, bứt rứt không yên:

Chi tử 14 trái, Hương xị 4 chén, sắc uống (Chi Tử Xị Thang – Thương Hàn Luận).

Trị chảy máu cam:

Sơn chi tử, sao cháy đen, thổi vào mũi nhiều lần có hiệu quả (Lê Cư Sỉ Giản Dị phương).

Trị tiểu tiện không thông:

Chi tử 14 quả, Tỏi (loại 1 tép) 1 củ, 1 chút muối, gĩa nát, dán vào chỗ rốn và bọng đái một chốc sẽ thông ngay (Phổ Tế phương).

Trị tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu ra máu:

Sơn chi sống tán bột, Hoạt thạch, lượng bằng nhau, uống với nước Hành (Kinh Nghiệm Lương phương).

Trị đại tiện ra máu tươi:

Chi tử nhân, sao cháy đen, uống 1 muỗng với nước (Thực Liệu phương).

Trị tiêu ra máu do độc rượu:

Sơn chi gìa, sấy khô, tán bột, uống với nước ở giữa lòng sông (Thánh Huệ phương).

Trị tiêu ra máu do nhiệt độc:

Chi tử 14 trái, bỏ vỏ, gĩa nát, tán bột, trộn mật làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 3 viên, ngày 3 lần, có thể uống với nước (Trửu Hậu phương).

Trị kiết lỵ lúc sinh:

Chi tử tán bột, uống với rượu nóng, lúc đói, mỗilần một muỗng canh, bệnh nặng uống không quá 7 lần (Thắng Kim phương).

Trị phụ nữ bị phù do thấp nhiệt khi có thai:

Sơn chi tử 1 chén, sao, tán bột. Mỗi lần uống 8 – 12g với nước cơm hoặc làm viên uống (Đan Khê Tâm Pháp).

Trị phù thủng do nhiệt:

Sơn chi tử nhân, sao, nghiền. Mỗi lần uống 12g với nước cơm. Nếu nhiệt ở thượng tiêu thì dùng luôn cả xác (Đan Khê Tâm Pháp).

Trị hoắc loạn chuyển gân, chuột rút, bụng ngực căng đầy, chưa nôn và tiêu được

Chi tử 27 trái, tán bột, uống với rượu nóng (Trửu Hậu phương).

Trị trong bụng đau xóc do lạnh và nóng xung đột nhau, ăn uống không được:

Sơn chi tử, Xuyên ô đầu, 2 vị bằng nhau, tán bột, hồ với rượu làm viên to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 15 viên với nước Gừng sống. Nếu đau ở bụng dưới thì uống với nước Hồi hương (Bác Tễ phương).

Trị đau nóng ở vùng dạ dày:

Sơn chi tử lớn 7 – 9 trái, sao đen, sắc với 1 chén nước còn 7 phân, uống với nước Gừng sống. Nếu không bớt thì dùng với 4g Huyền minh phấn thì ngưng ngay (Đan Khê Tâm Pháp).

Trị bệnh về khí của Ngũ tạng, bổ âm huyết:

Chi tử sao đen, tán bột, sắc với Gừng sống uống (Đan Khê Tâm Pháp).

Trị bệnh thi chú, đau xóc lên tim ngực liên tục:

Chi tử 21 trái, đốt, tán bột, uống với nước (Trửu Hậu phương).

Trị sốt cao sau khi ăn hoặc sau khi giao hợp đau muốn chết:

Chi tử 30 trái, nước 3 thăng. Sắc còn 1 thăng, uống cho ra mồ hôi (Mai Sư phương).

Trị trẻ nhỏ bứ rứt, nổi cuồng, tích nhiệt ở dưới, mình nóng phát cuồng, hôn mê, không ăn:

Chi tử 7 trái, Đậu xị 20g. Sắc với 1 chén nước còn 7 phân, uống vào công hiệu ngay, có thể mửa (Tập Hiệu phương).

Trị bàn trường điếu khí:

Đào nhân 20g, 1 chút Thảo ô đầu, tất cả sao qua rồi bỏ Ô đầu đi, thêm Bạch chỉ 4g. Tán bột, mỗi lần uống 2g với rượu Hồi hương và Hành trắng (Phổ Tế phương).

Trị mắt đỏ kèm táo bón:

Sơn chi tử 7 trái, dùi lỗ, nướng chín, sắc với 1 thăng nước còn nửa thăng, bỏ bã, đồng thời cho vào 12g bột Đại hoàng, uống nóng (Phổ Tế phương).

Trị ăn vào mửa ra ngay:

Chi tử 20 trái, sao qua, bỏ vỏ, sắc uống (Quái Chứng Kỳ phương).

Trị đầu đau do phong đàm không chịu nổi:

Chi tử (bột), trộn mật, ngậm trên lưỡi, hễ nôn ra là bớt (Binh Bộ Thủ Tập phương).

Trị mũi nổi hột thịt đỏ như mũi sư tử:

Chi tử sao, tán bột, cùng với sáp vàng làm viên bằng viên đạn lớn. Mỗi lần dùng 1 viên, nhai nhỏ với nước trà, ngày 2 lần. Kiêng rượu, thức ăn chiên, xào (Bản Sự phương).

Trị mũi nổi hột thịt đỏ như mũi sư tử:

Sơn chi, Tang bạch bì, Hoàng cầm, Cam thảo, Cát cánh, Ngũ vị tử, Can cát, các vị bằng nhau, sắc uống (Bản Sự phương).

Trị đơn độc do hỏa nhiệt:

Dành dành nhân, đốt, tán bột, trộn nước tẩm vào (Mai Sư phương).

Trị phỏng chưa phát ra:

Dành dành nhân, đốt, tán bột, trộn với dầu mè, đắp, băng lại (Thiên Kim phương).

Trị lở ngứa trong mí mắt:

Dành dành, đốt, tán bột, xức vào (Bảo Ấu Đại Toàn phương).

Trị sưng đau do gãy xương:

Dành dành gĩa nát, trộn với Bạch miến, đắp vào (Tập Giản phương).

Trị chó dại cắn:

Dành dành bì (đốt, tán bột), Thạch lưu hoàng, 2 vị bằng nhau, tán bột xức vào (Mai Sư phương).

Trị phỏng do nhiệt:

Dành dành, tán bột, trộn với lòng trắng trứng gà, phết lên chỗ đau (Cấp Cứu phương).

Trị thương hàn thấp nhiệt sinh ra vàng úa, bụng lớn dần:

Dành dành 14 trái, Nhân trần 240g, Đại hoàng 120g, 1 đấu nước. Trước hết sắc Nhân trần giảm 6 phần rồi bỏ cả 2 vị vào sắc còn 3 thăng, chia làm 3 lần. Khi nào tiêu thông như nước Bồ kết (có khi đỏ), uống một đêm thì giảm, màu vàng khè trên da tự nhiên theo nước tiểu mà ra hết (Nhân Trần Đại Hoàng Thang – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị vàng da, mình nóng:

Sơn chi, Cam thảo, Hoàng bá sắc uống (Dành dành Hoàng Bá Thang – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị sau khi bị thương hàn sinh đầy bụng, bứt rứt, nằm ngồi không yên, mửa ra thì đỡ:

Sơn chi, Hậu phác, Chỉ thực, sắc uống (Dành dành Hậu Phác Thang – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tả hỏa ở tiểu trường:

Dùng Sơn chi, Xích phục linh, Mộc thông, Hoạt thạch, Trạch tả các vị bằng nhau. Tả hỏa hữu dư của Tâm kinh, dùng Sơn chi, Liên kiều, Mạch môn đông, Trúc diệp, Đăng tâm thảo, Cam thảo (sống). Hoàng liên các vị bằng nhau (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị vàng da vì dùng nhiều rượu sinh nóng người:

Sơn chi, Nhân trần cao, Hoạt thạch, Xa tiền tử, Tần giao, Hoàng liên thảo, Mục túc, các vị bằng nhau, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị chảy máu cam, mửa ra máu do huyết nhiệt, lỵ ra máu, huyết ra lai rai:

Dành dành 16g, Hoàng cầm 12g, Bạch mao căn 20g, Tri mẫu 12g, Cát cánh 8g, Cam thảo 4g, Trắc bá diệp 12g, Xích thược 12g, sắc uống (Lương Huyết Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị bàng quang viêm cấp tính, tiểu ra máu:

Chi nhân 16g, Mao căn 20g, Đông quỳ tử 12g, Cam thảo 8g, sắc uống (Chi Tử Nhân Tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị viêm gan vàng da cấp tính do thấp nhiệt, nóng nảy trong ngực, tiểu vàng, tiểu đỏ, vàng toàn thân:

Chi tử 16g, Hoàng bá 12g, Cam thảo 4g, sắc uống (Chi Tử Bá Bì Thang – (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 

Các phản hồi đến

  1. Nguyễn Thành Tâm says:

    Lá dành dành luc shais có mủ trắng sữa giống sữa tươi đúng không ạ? loại này người ra trồng làm
    cây cảnh đúng không? Lá vò để đặc ăn như lá sương sâm phải không ạ.

    Trân trọng cảm ơn!

Gửi phản hồi

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị công khai.

Menu Title